GIẢI PHÁP PHÒNG TRỊ SÂU BỆNH MĂNG CỤT BẰNG SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY AA
GIẢI PHÁP PHÒNG TRỊ SÂU BỆNH MĂNG CỤT BẰNG SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY AA
Măng cụt là loại trái cây có giá trị kính tế và giá trị dinh dưỡng cao, được nhiều người ưa chuộng. Tuy nhiên, người trồng măng cụt hiện đang gặp phải nhiều loại sâu, bệnh ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, làm giảm năng xuất và chất lượng trái măng cụt dẫn đến giảm lợi nhuận mà vẫn chưa có biện pháp khắc phục. Chính vì vậy Công ty Cổ phần Giải pháp Nông nghiệp Tiến Tiến (Công ty AA) nghiên cứu giải pháp phòng trừ sâu bệnh trên măng cụt bằng các sản phẩm của Công ty AA, trong đó có nhiều loại sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ và sinh học nhằm mục đích: “phòng trừ sâu, bệnh; nâng cao năng xuất và chất lượng cho cây trồng; bảo vệ môi trường sinh thái; bảo vệ nền nông nghiệp bền vững”.

Qua nhiều nghiên cứu và khảo sát xin giới thiệu một số sâu, bệnh trên cây măng cụt thường gặp, đặc biệt là bệnh xì mủ, sượng trái như sau:
- Sâu hại:
1.1. Mô tả: Trên cây măng cụt thường gặp các đối tượng sâu hại sau:
1.1.1. Sâu vẽ bùa (Phyllocnistic citrella).

Sâu vẽ bùa trên lá măng cụt
Cách gây hại: Sâu non mới nở ăn biểu bì lá tạo thành những đường ngoằn ngoèo và có thể gây cháy từng mảng, làm hư chồi ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và ảnh hưởng đến tỷ lệ ra hoa.
1.1.2. Bọ trĩ (Thrips spp.) :

Trái măng cụt bị bọ trĩ chích
Cách gây hại: Bọ trĩ gây hại chủ yếu trên hoa và giai đoạn trái non, chúng tấn công làm trái chảy nhựa, tạo thành các vết sẹo trên vỏ trái làm giảm chất lượng và giá trị thương phẩm.
1.1.3. Nhện đỏ (Tetranychus spp.).

Nhện đỏ gây hại trên trái măng cụt
Cách gây hại: Ấu trùng màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt, khi trưởng thành có màu đỏ, có tám chân. Nhện đỏ tấn công lên là và trái, chích cạp và hút nhựa lá và trái. Trên lá, vết thương tạo thành những chấm nhỏ li ti trên mặt lá, khi bị nặng vết chấm lan rộng và có màu ánh bạc, sau đó là có thể bị khô và rụng.
Trên trái, nhện thường sống tập trung ở phần cuống trái và đáy trái. Khi trái còn non, nhện chích và hút dịch ở lớp biểu bì là vỏ trái bị sần sùi.
1.1.4. Ruồi đục trái: Khi trái sắp chín ruồi đục trái làm rí nhựa trên vỏ trái. Do đặc điểm của ruồi đục quả có khả năng bay xa, con cái dùng vòi đẻ trứng vào bên trong vỏ trái, nên việc dùng thuốc hoá học có tính lưu dẫn, tiếp xúc và xông hơi để phun xịt mang lại hiệu quả không cao. Vì vậy để hạn chế tác hại của ruồi đục trái cần áp dụng đồng bộ các biện pháp: phun thuốc, bẫy (mua ở các cửa hàng BVTV), bao trái.

Ruồi đục trái
1.2. Phòng trị:
Tỉa bỏ các cành trong tán giúp cây thông thống sẽ giảm mật độ sâu bọ. Phun thuốc vào giai đoạn lá non, trước ra hoa và giai đoạn trái non bằng các loại thuốc Thời gian phun thuốc: trong vụ có 10 lần phun thuốc như sau: Khi nhú chồi cơi 1 và sau đó 10 ngày; khi nhú chồi cơi 2 và sau đó 10 ngày; khi nhú chồi cơi 3 và sau đó 10 ngày; khi nhú hoa; khi đậu quả; sau đậu quả 15 ngày và 30 ngày. Lần cuối cùng nên dùng thuốc sinh học hoặc dầu khoáng để đảm bảo an toàn chất lượng quả.
Lưu ý: Do sâu bọ có tính kháng thuốc rất mạnh nên dùng luân phiên nhiều loại thuốc để hạn chế bớt áp lực gây kháng thuốc đối với sâu bọ.
Một số thuốc đặc trị của Công ty AA:
1.2.1. Starcheck 755WP: là thuốc trừ rầy thế hệ mới, hổn hợp bởi ba hoạt chất tác động vào hệ thần kinh côn trùng chích hút nên hiệu lực trừ rầy nhanh , mạnh và kéo dài do đó tiết kiệm được công phun thuốc và hạn chế khả năng tái phát rầy.
1.2.2. Binh 58EC: là thuốc trừ sâu thuộc nhóm lân hữu cơ, thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc và khả năng nội hấp mạnh nên phòng trừ hiệu quả đối với các loài chích hút như rệp, nhện đỏ, bọ trĩ, bọ xít rầy xanh, sâu vẽ bùa, … trên nhiều loại cây trồng.
Liều lượng và đối tượng: xin xem kỹ trên nhãn.
- Bệnh hại:
2.1. Mô tả bệnh: Thường gặp các đối tượng bệnh sau:
2.1.1. Bệnh đốm rong (do tảo Cephaleuros virescens).

Bệnh đốm rong trên măng cụt
Triệu chứng: Bệnh xảy ra trên lá, thân, nhánh. Rong tấn công trên thân nhánh tạo thành các đốm đồng tiền hay loang lổ màu xám xanh hoặc vàng
2.1.2. Bệnh đốm lá (do nấm Pestalotia sp.).

Bệnh đốm lá trên măng cụt
Bệnh này rất quan trọng trên măng cụt, vì bệnh có thể làm rụng lá và ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Triệu chứng: đốm bệnh ban đầu thường có màu vàng cam, sau lan nhanh và chuyển sang màu nâu đỏ, xung quanh vết bệnh có viền nâu sậm. Bào tử của nấm gây bệnh có thể được lan truyền qua nước mưa, nước tưới phun…từ những lá bệnh trên cây.
2.1.3. Bệnh chết nhánh (do nấm Zignoella gorcirea).
Triệu chứng: nấm tấn công gây cháy lá và làm chết từng nhánh nhỏ trên cây, bệnh có thể lây lan rất nhanh trong điều kiện ẩm độ cao, lúc mưa nhiều.
2.1.4. Bệnh bồ hóng (do nấm Capnodium sp.).
Đây là bệnh gây hại trên măng cụt, nhưng không được xem là bệnh hại quan trọng.
– Triệu chứng: Bệnh phát triển với các tơ nấm màu trắng hồng bao phủ quanh các cành và chồi non. Phần phiến lá phía trên vết bệnh khô dần và chết. Bệnh phát triển khi điều kiện khí hậu chuyển sang khô.
2.1.5. Bệnh thán thư (do nấm Collectotrichum).
Triệu chứng: Bệnh có thể phát sinh trên lá, cành và trái. Trên lá, bệnh tạo thành các đốm cháy màu nâu, nhiều đốm có thể liên kết với nhau làm khô cả một mảng lá. Trên trái bệnh tạo thành những đốm màu nâu đen có thể làm trái thối khô và rụng. Nấm tồn tại trên các lá và trái bị bệnh, phát tản lây lan do gió và nước. Bệnh sẽ phát triển mạnh khi trời mưa nhiều, thời tiết ẩm thấp.
2.1.6. Bệnh nấm hồng (do một nấm ký sinh Corticium salmonicola Berk. & Broome): Bệnh tấn công chủ yếu trên vỏ của thân và cành của cây trưởng thành. Triệu chứng ban đầu là dạng chỉ màu trắng của khuẩn ty phát triển trên bề mặt của vỏ cây. Trong điều kiện nóng ẩm, vết bệnh lây lan nhanh chóng tạo thành một lớp khuẩn ty bao phủ quanh thân cành. Khuẩn ty ngày càng dày đặc như lớp phấn phủ có màu trắng phấn, về sau chuyển màu hồng phấn. Phần vỏ nơi bị bệnh thường bị nứt và chảy nhựa.
2.1.7. Bệnh Chảy nhựa thân (do nấm Phytophthora sp.)
Triệu chứng: Đây là bệnh hại rất nguy hiểm trên cây măng cụt. Tác nhân do nấm Phytophthora gây hại, nấm lưu tồn chủ yếu trong đất, trong nước, trong các bộ phận bị bệnh của cây. Nấm tấn công phần vỏ thân gần mặt đất và lan dần đến các cành làm vỏ cây bị biến màu nâu, sau đó vỏ cây bị chảy nhựa, phần gỗ tại vết bệnh cũng hóa nâu.
2.2. Giải pháp phòng trị:
Thường xuyên tỉa cành tạo tán giúp cây thông thoáng để giảm bệnh. Những cành có bệnh cần cắt bỏ và tiêu hủy ngay để tránh lây lan, nếu bệnh trên cây phải cạo sạch vết bệnh rồi quét các loại thuốc gốc đồng, có thể kết hợp phun các loại thuốc gốc đồng lên tán lá, phun ướt đều lên hai mặt lá và trái khi còn non. Tốt nhất nên phun ngừa theo định kỳ 2 tháng một lần vào mùa mưa và 3 tháng một lần vào mùa khô. Các loại thuốc của Công ty AA sau đây có thể phối hợp phun để phòng trừ bệnh:
Một số thuốc đặc trị bệnh của Công ty AA:
2.2.1. Thuốc gốc Phi tiêu Fosetyl – Aluminium: Phi Tiêu là thuốc trừ bệnh nội hấp lưu dẫn 2 chiều trong cây, từ lá xuống thân, rễ và từ rễ lên thân lá. Thuốc nhanh chóng xâm nhập và vận chuyển trong mạch cây, diệt được nấm ở bên trong các chồi lá non, trong thân và rễ cây. Phi Tiêu chuyên trị nấm bệnh Phytophthora spp.
2.2.2. ANNONGMANCO 80WP (Mancozeb): là thuốc trừ bệnh, phổ tác dụng rộng, tiêu diệt loại nấm bệnh hại cây trồng. Cơ chế tác động tiếp xúc, ngăn ngừa sự xâm nhập và phát triển, lây lan của nấm bệnh. Đặc trị nấm bệnh như sương mai (mốc sương) Ngoài tác dụng phòng trừ bệnh còn giúp cây trồng xanh khỏe, tăng cường tính chống chịu bệnh hại và tăng năng suất, chất lượng nông sản. Không ảnh hưởng với ong mật, ít độc với chim. bảo vệ cây trồng dài ngày.
2.2.3. FUNDAZOL 50WP: là thuốc trừ bệnh cây, có tác dụng lưu dẫn; thuốc thấm vào cây qua thân, lá; có tác dụng ngăn cản sự phân chia tế bào của nấm gây bệnh không cho nấm bệnh phát triển. Phổ tác dụng rộng trừ được nhiều loại nấm bệnh trong nhóm nấm nang, nấm đảm như: bệnh thán thư, bệnh sẹo cây có múi, bệnh phấn trắng trên, bệnh rĩ sắt và bệnh khô hoa, trái.
2.2.5. ANLICIN 5WP: là một chất kháng sinh được chiết xuất từ một dòng nấm Streptomyces, rất hữu hiệu trong phòng trừ dịch hại, an toàn cho con người, vật nuôi và môi sinh, duy trì hiệu lực lâu dài do không tạo ra các dòng nào kháng thuốc. Đặc trị bệnh nấm hồng trên cây măng cụt.
Nghiên cứu và tập hợp : Cử nhân sinh học Nguyễn Duy Tân
Email : zuytan@gmail.com